Đề tài cấp cơ sở

Nghiên cứu các trường hợp chết tại các cơ sở giam giữ qua giám định pháp y tại Viện Pháp y quốc gia giai đoạn 2012-2017

2 tháng trước | 184

Mô tả đặc điểm tổn thương và phân loại nguyên nhân tử vong của các trường hợp chết tại các cơ sở giam giữ

 

ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ NĂM 2017

Tên đề tài:

Nghiên cứu các trường hợp chết tại các cơ sở giam giữ qua giám định pháp y tại Viện Pháp y quốc gia giai đoạn 2012-2017”

 

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Đức Nhự

Tham gia nghiên cứu: YS. Vũ Văn Hải

Mục tiêu nghiên cứu:

1. Mô tả đặc điểm tổn thương và phân loại nguyên nhân tử vong của các trường hợp chết tại các cơ sở giam giữ.

2. Nhận xét một số khó khăn khi giám định pháp y tử thi những trường hợp chết tại các CSGG.

Kết quả nghiên cứu: Tổng số 125 trường hợp chết liên quan đến các CSGG được Viện Pháp y quốc gia giám định trong thời gian từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 9 năm 2017.

- Trong số 54 trường hợp tử vong có dấu vết tổn thương bên ngoài, tổn thương sây sát da, bầm tím chiếm tỷ lệ cao nhất 31,48%, vết hằn sây sát da ở cổ (27,78%), vết lở loét hoại tử da (18,52%), vết tiêm chích (14,81%), những tổn thương khác chiếm tỷ lệ ít như: vết thương phần mềm (3,7%), gãy xương (1,85%); vết đạn (1,85%).

- Tổn thương bên trong có liên quan đến tác động bạo lực, chiếm 14,4%. Trong đó: CTNS, VTSN và rạn nội mạc động mạch cảnh đều chiếm tỷ lệ (27,8%), chấn thương vùng cổ (16,7%), chấn thương ngực và đa chấn thương đều là 11,1%, chấn thương bụng (5,6%).

- Tử vong do bạo lực, treo cổ chiếm số lượng lớn nhất (15), tác động ngoại lực (4), shock ma túy, ngộ độc, điện giật đều có 1 trường hợp.

- Tử vong liên quan đến bệnh lý chiếm tỷ lệ 82,4% là khá cao. Trong đó, nguyên nhân do lao chiếm tỷ lệ cao nhất (19,42%), bệnh lý tim mạch (17,48%), viêm phổi nặng và bệnh lý phối hợp đều chiếm (15,53), các nguyên nhân khác chiếm tỷ lệ ít lần lượt là: tai biến mạch não (9,71%); ung thư và HIV/AIDS giai đoạn cuối đều chiếm (5,83%); xơ gan cổ trướng (4,85%); viêm mão, màng não và xuất huyết tiêu hóa đều chiếm (2,91%).

  • Khám giám định tại nhà đại thể bệnh viên cấp quận, huyện chiếm tỷ lệ nhiều nhất (61,6%), tại nhà đại thể bệnh viện trung ương (27,2%), tại nhà đại thể bệnh viện tỉnh, thành phố (7,2%), ít giám định tại CSGG (3,2%) và tại nơi tử vong (0,8%).
  • Thông tin ban đầu nhận được trước khi khám nghiệm kíp giám định tiếp nhận được đầy đủ là 87,2%, không đầy đủ là 12,8%.
  • Tất cả 20 trường hợp mắc bệnh lao đều được xét nghiệm biết kết quả (+) trước khi khám nghiệm, trong khi đối với HIV chỉ có 6 trường hợp biết (+) trước khi khám nghiệm, đã phát hiện thêm 5 trường hợp (+) sau khi khám nghiệm, xét nghiệm (+) với ma túy phát hiện sau khi khám nghiệm 4 trường hợp, viêm gan B, C (+) trước xét nghiệm là 1 và sau khám nghiệm là 2 trường hợp.

Đóng góp & Phản hồi bài viết:

Bạn vui lòng gõ tiếng Việt có dấu để được rõ nghĩa hơn.

Các bài viết khác

Nghiên cứu các trường hợp chấn tương mắt qua giám định tổn thương cơ thể tại Viện Pháp y quốc gia (2/4)

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG GIÁM ĐỊNH ADN TỪ ĐẦU MẨU THUỐC LÁ TẠI VIỆN PHÁP Y QUỐC GIA (14/6)

Khảo sát tần suất các alen trên 23 locus gen của dân tộc Kinh phục vụ công tác giám định ADN (14/6)

Đánh giá giá trị của đo điện cơ trong giám định tổn hại sức khỏe tại Viện Pháp y Quốc gia (14/6)

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG GIÁM ĐỊNH ADN TỪ MẪU MÔ TƯƠI TẠI VIỆN PHÁP Y QUỐC GIA (14/6)